Trẻ tự kỷ

Dâu hiệu trẻ tự kỷ bố mẹ cần phải biết

Mục lục

  • Giới thiệu chung.
  • Rối loạn phổ tự kỷ là gì.
  • Nguyên nhân chứng rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ.
  • Dấu hiệu rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ.
  • Ảnh hưởng rối loạn phổ tự kỷ đối với trẻ.
  • Phương pháp trị liệu rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ.
  • Chế độ dinh dưỡng tốt và không tốt đối với trẻ rối loạn phổ tự kỷ.

1. Giới thiệu chung:

Rối loạn phổ tự kỷ ở trẻ đang dần trở thành hội chứng phổ biến trong xã hội ngày nay do những biểu hiện khác nhau với mức độ đa dạng của hội chứng. Những con số dưới đây sẽ giúp chúng ta phần nào hiểu được mức độ đa dạng và nguy hiểm của hội chứng. Ở Anh mỗi năm có khoảng 700.000 người mắc chứng tự kỷ, chiếm tỉ lệ khoảng 1/100 người. theo nghiên cứu thì đàn ông có nguy cơ mắc chứng tự kỷ cao hơn so với phụ nữ.

2. Tự kỷ là gì?

Tự kỷ là một khuyết tật về sự phát triển ảnh hưởng đến nhận thức, tương tác và giao tiếp với xã hội. Dưới đây là những thông tin cụ thể về hội chứng này. Tự kỷ là một chứng rối loạn phát triển tâm trí sớm. Chiếm đa số là trẻ em, thường được phát hiện trong độ tuổi từ 3-10, kéo dài mà không thuyên giảm. Trẻ tự kỷ thường tự cô lập bản thân với thế giới xung quanh, kết hợp những hành vi rập khuôn, lặp đi lặp lại nhiều lần gây ra những ảnh hưởng tâm lý nghiêm trọng cho trẻ, đồng thời gây cản trở những quan hệ và giao tiếp xã hội của trẻ sau này.

3. Nguyên nhân chứng tự kỷ:

Trước đây, có một số người cho rằng tự kỷ là do việc tiêm vắc-xin, cách nuôi dạy của cha mẹ, hoặc do các thực phẩm chứa gluten…, tuy nhiên, thực tế đây là những thông tin không đúng. Nguyên nhân chính xác của chứng rối loạn phổ tự kỷ (ASD) hiện nay thực sự vẫn chưa rõ ràng. Các nghiên cứu cho thấy, tự kỷ có thể xuất phát từ những tổn thương ở một khu vực của não bộ liên quan tới khả năng xử lý các cảm xúc và phát triển ngôn ngữ. Hiện nay, đa số các chuyên gia cho rằng tình trạng phức tạp này có thể xảy ra do hậu quả của khuynh hướng di truyền và các yếu tố môi trường.

  • Tuổi tác cha mẹ:

Trong nhiều nghiên cứu tuổi của bố và mẹ khi mang thai thai lớn hơn hoặc bằng 34 tuổi đã được phát hiện có liên quan đến việc gia tăng nguy cơ mắc chứng tự kỷ ở con cái. Đặc biệt là tuổi của cha được xác định là một trong những yếu tố nguy cơ quan trọng nhất của chứng tự kỷ, nguy cơ tự kỷ tăng 29% cho mỗi 10 năm tuổi của người cha, Nếu người cha 40 tuổi có nguy cơ sinh con bị ảnh hưởng cao gấp 2,5 lần so với những người ở độ tuổi 25- 29 tuổi.

  • Thể chất của người mẹ khi mang thai

+ Các bệnh lý chuyển hóa, xuất huyết và nhiễm trùng ở mẹ khi mang thai là một số bệnh có liên quan đến chứng bệnh tự kỷ ở trẻ.

+ Chảy máu ở mẹ khi mang thai có liên quan đến nguy cơ tự kỷ cao hơn 81% so với bình thường.

+ Các bệnh lý chuyển hóa, bao gồm bệnh tiểu đường, tăng huyết áp và béo phì, là nguyên nhân dẫn đến tình trạng thiếu oxy (thiếu oxy) trong tử cung, dẫn đến thiếu sự phát triển não bộ và sự thiếu hụt tế bào thần kinh hồi hải mã – hippocampal neurons (một khu vực não liên quan rất nhiều đến chứng tự kỷ).

+ Các bệnh lý nhiễm khuẩn do vi rút ở người mẹ trong ba tháng đầu của thai kỳ, bao gồm rubella, sởi, quai bị, thủy đậu, cúm, herpes, viêm phổi, giang mai, và nhiễm trùng do vi khuẩn cũng làm tăng nguy cơ tự kỷ ở phôi thai.

  • Tinh thần của người mẹ khi mang thai

Hành vi của cha mẹ và cách giao tiếp của chúng ta có mối liên hệ đối với sự hình thành nhân cách và cảm xúc của trẻ. Những trẻ bố mẹ có tiền sử các bệnh lý thần kinh sẽ có nguy cơ mắc chứng tự kỷ cao hơn 3 lần so với bình thường; Trạng thái tâm lý căng thẳng của người mẹ, đặc biệt là những căng thẳng lớn và kéo dài có thể dẫn đến một số bệnh lý như trầm cảm, rối loạn lo âu ở người mẹ. Sau đó ảnh hưởng đến quá trình phát triển của thai nhi thông qua việc làm gián đoạn hệ thống phản ứng với căng thẳng của thai nhi, sẽ mở đường cho những khiếm khuyết về thể chất và tinh thần khác nhau bao gồm chứng tự kỷ. Vì vậy trong quá trình mang thai bố mẹ hãy luôn vui vẻ sẽ rất tốt cho quá trình phát triển của trẻ sau này.

  • Rủi do khi mang thai và sau khi sinh

+ Tuổi thai bất thường, sinh non dưới 35 tuần và sinh già quá 42 tuần tuổi.

+ Các yếu tố nguy cơ trước khi sinh như chảy máu trong khi mang thai.

+ Biến chứng và biến chứng do dây rốn như dây rốn quấn cổ thai nhi có tỉ lệ mắc cao hơn ở trẻ thường.

+ Thai nhi bị thiếu máu, oxy và dinh dưỡng, sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển não bộ của thai nhi.

+ Trẻ nhẹ cân, vàng da và nhiễm trùng sau sinh như: viêm màng não, quai bị, thủy đậu, sốt không rõ nguyên nhân

  • Chế độ dinh dưỡng

Yếu tố này có thể can thiệp được vì chúng tập trung vào dinh dưỡng, đặc biệt là dinh dưỡng của người mẹ khi mang thai và dinh dưỡng của hai mẹ con sau quá trình sinh nở.

+ Bổ sung Axit béo chưa bão hòa: axit linoleic (ALA), omega-3 và omega-6 rất quan trọng cho sự phát triển võng mạc và não trong tử cung, truyền tín hiệu, biểu hiện gen và như các thành phần của màng tế bào trong 2 tháng đầu của thai kỳ.

+ Bổ sung Axit folic: theo các nghiên cứu khoa học cho thấy, việc bổ sung axit folic cho người mẹ trong thời kỳ đầu mang thai có liên quan đến việc giảm thiểu các vấn đề về hành vi ở con cái khi 18 tháng tuổi, giảm nguy cơ chậm phát triển ngôn ngữ nghiêm trọng ở tuổi lên 3, cải thiện khả năng nói và khả năng chú ý khi trẻ 4 tuổi, chứng tăng động quá mức khi trẻ 8 tuổi và đặc biệt làm giảm nguy cơ mắc chứng tự kỷ.

+ Bổ sung Sắt, folate, methionine và vitamin : itamin A và các vitamin khác có vai trò quan trọng trong trong sự phát triển của não, vitamin D tác động lên các quá trình sinh học quan trọng như sửa chữa các DNA và có tác dụng chống viêm của trên mô não.

4. Dấu hiệu bệnh tự kỷ ở trẻ:

Thực tế, trẻ bị tự kỷ thường khó xác định thông qua hành vi. Đa phần các trẻ này có khả năng trí tuệ bình thường hoặc trên mức trung bình, một số ít có năng khiếu trí nhớ chụp hình, trí nhớ máy móc cao nên dễ nhầm tưởng trẻ thông minh. Bên cạnh đó, các bé tự kỷ nhẹ vẫn biết nói, nên rất khó để ba mẹ nhận biết.

Thiếu hụt những kỹ năng tương tác xã hội là vấn đề cơ bản của tự kỷ như trẻ không biết chỉ tay, ít giao tiếp bằng mắt, kéo tay người khác cần, ít cử chỉ giao tiếp, không làm theo hướng dẫn, chơi một mình không chia sẻ, chỉ làm theo ý thích của mình, không khoe, không để ý đến thái độ và tình cảm của người khác… Một số trẻ chẳng biết lạ ai, đến nơi mới nào cũng không để ý đến sự đổi thay của môi trường, nhưng lại có những trẻ rất sợ người lạ sợ chỗ lạ. Trẻ thường gắn bó và để ý tới đồ vật nhiều hơn là để ý tới mọi người xung quanh.

Bất thường về ngôn ngữ: chậm nói, hoặc đã nói được nhưng sau lại không nói, phát âm vô nghĩa. Dạy không nói theo. Nếu trẻ nói được thì lại nói nhại lời, nhại quảng cáo, chỉ nói khi đòi ăn, đòi đi… Ngôn ngữ thụ động, không biết đặt câu hỏi, hoặc hỏi lại nhiều lần một câu hỏi. Không biết đối đáp hội thoại, không biết kể chuyện lại những gì đã chứng kiến. Giọng nói khác thường như nói giọng lơ lớ, thiếu diễn cảm, nói nhanh, nói ríu lời, nói rất to… Trẻ không biết chơi giả vờ tưởng tượng mang tính xã hội, không biết trò chơi có luật. Chậm nói là lý do chủ yếu để các cha mẹ đưa con đi khám bệnh vì đó là dấu hiệu dễ nhận thấy nhất.

Những bất thường về hành vi, thói quen và ý thích thu hẹp: hành vi định hình như đi kiễng gót, quay tròn người, ngắm nhìn tay, nhìn ngiêng, lắc lư người, nhảy chân sáo, chạy vòng quanh, nhảy lên… Những thói quen rập khuôn thường gặp là: đi về theo đúng một đường, ngồi đúng một chỗ, nằm đúng một vị trí, thích mặc đúng bộ quần áo đó, luôn làm một việc theo một trình tự…

Những ý thích thu hẹp như: cách chơi đơn điệu kéo dài, cuốn hút nhiều giờ xem ti vi quảng cáo, băng hình, điện thoại, quay bánh xe, hay ngắm nhìn hoặc tay luôn cầm một thứ như bút, que, tăm, giấy, chai lọ, đồ chơi có mầu ưa thích hoặc có độ cứng mềm khác nhau… Nhiều trẻ ăn vạ khóc lăn ra nếu không vừa ý do trẻ không biết nói và do thiếu kiềm chế. Có khoảng trên 70% trẻ tự kỷ có biểu hiện tăng động, không phản ứng với nguy hiểm.

5. Ảnh hưởng bệnh tự kỷ đối với trẻ:

Tự kỷ nhẹ ở trẻ là mức độ nếu được can thiệp sớm sẽ giúp trẻ có khả năng hòa nhập tốt so với tự kỷ nặng và điển hình. Tuy nhiên nếu không tác động tích cực cho trẻ sẽ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng không thể lường trước được, chẳng hạn như:

Khiến trẻ rất khó hoặc không thể hòa nhập được vào xã hội và cộng đồng xung quanh mình, giảm khả năng giao tiếp, rất ngại khi phải tiếp xúc với người khác, trẻ trở nên thụ động, thu mình lại, dễ trở thành gánh nặng cho gia đình và xã hội.  

Trẻ tự kỷ không có các phản ứng bình thường như những đứa trẻ khác đồng trang lứa, đôi khi còn trở nên vô cảm, mất luôn phản ứng. Một số trường hợp, trẻ có thể thực hiện nhiều hành vi bột phát không tự kiểm soát được, gây hại cho bản thân, tự làm tổn thương thân thể mình.

Trẻ tự kỷ nhẹ nếu không được giải quyết sớm và chăm sóc đặc biệt, sẽ không thể phát triển toàn diện trong tương lai.

Tuy chứng tự kỷ nhẹ không thể chữa khỏi hoàn toàn được nhưng các nhà chuyên môn cùng ba mẹ có thể giúp trẻ khắc phục được. Đặc biệt, nếu được giải quyết sớm, trẻ mắc chứng tự kỷ nhẹ vẫn có thể đến trường học và có một cuộc sống bình thường, hạnh phúc.

6. Phương pháp điều trị bệnh tử kỷ ở trẻ:

Hiện nay với tiến bộ của khoa học nếu trẻ tự kỷ được kiểm tra, phát hiện và can thiệp sớm thì sự phát triển của trẻ vẫn có thể diễn ra tương đối bình thường, trẻ có thể hòa nhập được với cộng đồng xã hội. sau đây là các phương pháp điều trị phổ biến hiện nay:

A. Phân tích hành vi ứng dụng (ABA).

Phân tích hành vi ứng dụng (ABA) là một trong những phương pháp điều trị hội chứng tự kỷ được sử dụng rộng rãi nhất cho cả người lớn và trẻ em. Nó đề cập đến một loạt các kỹ thuật được thiết kế để khuyến khích các hành vi tích cực bằng cách sử dụng hệ thống khen thưởng, có một số hình thức áp dụng phương pháp ABA như sau:

Rèn luyện thử nghiệm riêng biệt: phương pháp chia nhỏ kỹ năng cần rèn luyện thành những bước nhỏ và riêng biệt để khuyến khích việc trẻ học từng bước một.

Can thiệp sớm tăng cường hành vi: bằng cách cho bé học với các nhà trị liệu giúp trẻ giúp trẻ phát triển kỹ năng giao tiếp và giảm các hành vi có vấn đề, bao gồm cả hành vi bùng nổ tâm lý hoặc tự làm hại bản thân.

Liệu pháp phản hồi then chốt: Chiến lược này được sử dụng trong môi trường hàng ngày nhằm dạy trẻ để dạy ngôn ngữ, giảm hành vi gây rối hoặc tự kích thích, tăng kỹ năng tương tác xã hội, giao tiếp, và kĩ năng học tập bằng cách tập trung vào những hành vi trọng yếu, hoặc “then chốt”, có tác động đến nhiều hành vi khác

Can thiệp hành vi bằng lời nói: Một nhà trị liệu làm việc trẻ để giúp trẻ hiểu tại sao và cách con người sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và dạy trẻ cách giao tiếp.

Hỗ trợ hành vi tích cực: Thực hiện những thay đổi về môi trường đối với gia đình hoặc lớp học để làm cho hành vi tích cực ở trẻ trở nên đáng khen hơn, cổ vũ trẻ thực hiện nhiều hơn .

B. Liệu pháp nhận thức- hành vi (CBT).

Liệu pháp nhận thức hành vi (CBT) là một loại liệu pháp trò chuyện có thể điều trị chứng tự kỷ hiệu quả cho trẻ em và người lớn. Trong các buổi học CBT, mọi người học về mối liên hệ giữa cảm xúc, suy nghĩ và hành vi. Điều này có thể giúp xác định những suy nghĩ và cảm xúc gây ra các hành vi tiêu cực.

C. Đào tạo kỹ năng xã hội  (SST).

Đào tạo kỹ năng xã hội (SST) là một cách để giúp trẻ học được các kỹ năng xã hội cơ bản, bao gồm cách tiếp tục cuộc trò chuyện, hiểu sự hài hước và đọc các tín hiệu cảm xúc của người đối diện.

D. Liệu pháp điều hòa cảm giác (SIT).

Những bạn mắc chứng tự kỷ thì giác quan có những phản ứng bất thường như nhạy cảm hoặc phản ứng chậm với các kích thích từ thị giác, thính giác hoặc khứu giác. Liệu pháp này giúp trẻ cân bằng các phản ứng bằng cách sử dụng các trò chơi giảm tác động của giác quan đầu vào.

E. Liệu pháp trị liệu Cơ năng (OT).

OT là liệu pháp tập trung vào việc dạy các kỹ năng cơ bản mà học cần trong cuộc sống hàng ngày bao gồm dạy các kỹ năng vận động tinh, vận động thô, kỹ năng tập viết và kỹ năng tự chăm sóc bản thân….

F. Liệu pháp âm ngữ trị liệu.

Âm ngữ trị liệu là dạy cho trẻ tự kỷ các kỹ năng sử dụng âm lời nói để giúp họ giao tiếp tốt hơn. Hoạt động này phải được thực hiện bởi các chuyên gia âm ngữ trị liệu hoặc chuyên gia trị liệu cơ năng. giúp trẻ em cải thiện tốc độ và nhịp điệu của âm lời nói và sử dụng các từ một cách chính xác

G. Điều trị sử dụng thuốc .

Hiện nay vẫn chưa có loại thuốc nào đặc hiệu để điều trị chứng tự kỷ. Tuy nhiên một số loại thuốc được sử dụng  giúp làm giảm bớt các triệu chứng nhất định (Việc sử dụng thuốc phải theo giám sát, chỉ định của bác sỹ điều trị). Các loại thuốc được sử dụng bao gồm:

Thuốc chống loạn thần: Risperidone (Risperdal) và apripiprazole (Abilify) sử dụng trong một số trường hợp đặc biệt và chỉ được dùng cho trẻ trên 5 tuổi.

Thuốc chống trầm cảm: Trong khi nhiều người mắc chứng tự kỷ dùng thuốc chống trầm cảm, các nhà nghiên cứu vẫn chưa chắc chắn liệu chúng có thực sự giúp điều trị các triệu chứng tự kỷ hay không

Một số loại thuốc có tính kích thích: bao gồm các loại methylphenidate (Ritalin), thường được sử dụng để điều trị ADHD

Thuốc chống động kinh: Một số người mắc chứng tự kỷ cũng bị động kinh, vì vậy thuốc chống động kinh cũng đôi khi được kê đơn cho người tự kỷ bị động kinh.

7. Dinh dưỡng tránh và nên ăn cho trẻ tự kỷ:

Ngoài các phương pháp trị liệu kể trên thì trị liệu bằng dinh dưỡng là phương pháp đem lại những tín hiệu tích cực cho trẻ tự kỷ, tránh chế độ dinh dưỡng tiêu cực như: gluten/casein, đường, hóa chất bảo vệ thực vật, chất gây dị ứng, thực phẩm biến đổi gen… đồng thời bổ sung tăng cường các dưỡng chất bị thiếu hụt trầm trọng ở trẻ như GABA, folic acid, vitamin B12, Omega 3, methyl… từ đó giúp cải thiện các quá trình sinh hóa và chức năng thần kinh bên trong cơ thể trẻ.

A. Chế độ dinh dưỡng cần tránh:

Tránh thực phẩm chứa Gluten: Gluten là một protein có trong lúa mì, lúa mạch đen, lúa mạch và một số loại yến mạch, bánh mì, mì ống, ngũ cốc, bánh quy, bánh ngọt và bánh, bột nở , xúc xích, nước tương, bột ngọt, Xirô gạo, hương liệu tự nhiên, quy giòn…

Tránh thực phẩm chứa Casein: Casein là một protein được tìm thấy trong nhiều sản phẩm thực phẩm: Sữa bò, sữa dê, bơ, sữa chua, kem, pho mát, kem phô mai, bánh trứng, dầu bơ, sữa đặc, sô cô la, sữa chua, váng sữa, sữa tách béo, các loại bánh chứa sữa…

B. Thực phẩm nên sử dụng cho trẻ tự kỷ:

  • Thực phẩm có chứa Axit béo Omega 3-6-9: Cá thu, cá hồi, cá trích, trứng cá, hạt lanh, hạt óc chó, đậu nành, đậu lăng, trứng, thịt bò ăn cỏ, rau chân vịt, hạt lanh, dầu hướng dương…
  • Thực phẩm chứa Melatonin: Quả chuối, cam, cá hồi, khoai tây, ngô, dứa, cơm trắng.
  • Thực phẩm chứa GABA: gạo lứt nảy mầm, thịt lợn nạc, lòng đỏ trứng gà và đặc biệt có nhiều trong sữa miwako A+. Hàm lượng GABA trong Miwako A+ cao gấp 10 lần loại sữa thông thường. GABA là chất dẫn truyền thần kinh trong não bộ, GABA có vai trò rất quan trọng trong việc giúp não bộ tối ưu khả năng học tập, tăng khả năng chú ý, học hỏi, thực hiện nhiệm vụ, làm dịu căng thẳng một cách tự nhiên giúp giảm căng thẳng thần kinh, giúp trẻ ngủ ngoan và giảm bùng nổ tâm lý, hỗ trợ điều trị rối loạn lo âu, trầm cảm. Các chuyên gia dinh dưỡng khuyên dùng các sản phẩm chứa nhiều GABA trong quá trình trị liệu cho trẻ tăng động giảm chú ý, trẻ rối loạn phổ tự kỷ, trẻ rối loạn phát triển, chậm nói…
  • Thực phẩm chứa Folate: Các loại rau lá: rau chân vịt, bông cải xanh, đậu bắp, măng tây, nấm, gan và thận bò, nước cam, nước cà chua…
  • Thực phẩm chứa Vitamin B-6 và magiê, vitamin C, dimethylglycine, oxytocin, dầu CBD: có nhiều trong các loại hạt đậu, ngũ cốc nguyên hạt, đậu vàng Pisane Pea, hạt kê, gạo lứt hữu cơ nảy mầm.

Dinh dưỡng cân bằng, hoàn toàn từ thiên nhiên: dễ tiêu hóa, hấp thu, phòng ngừa nguy cơ táo bón, béo phì..

Miwako vị gạo là dòng sữa sạch, thuần chay, hoàn toàn từ thực vật canh tác thuận tự nhiên và đối với một số nguyên liệu đạt chuẩn hữu cơ Mỹ USDA. Sử dụng công nghệ Nhật Bản tối ưu hàm lượng dinh dưỡng trong các loại hạt so với phương pháp nảy mầm thông thường.


Là sản phẩm dinh dưỡng công thức độc đáo có nguồn gốc từ thực vật hữu cơ, được bổ sung Vitamin và khoáng chất, cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ

MIWAKO A+ được biết đến là sữa công thức thực vật hữu cơ, dành riêng cho đối tượng trẻ có nhu cầu đặc biệt như: trẻ tự kỷ (ASD), trẻ tăng động giảm chú ý (ADHD), trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, chậm phát triển trí tuệ, bất dung nạp Lactose, trẻ dị ứng,…

Tất cả nội dung của tài nguyên này chỉ được tạo ra cho mục đích thông tin và không nhằm mục đích thay thế cho lời khuyên, chẩn đoán hoặc điều trị chuyên nghiệp. Luôn tìm kiếm lời khuyên của bác sĩ, nhà trị liệu hoặc nhà cung cấp dịch vụ y tế đủ tiêu chuẩn khác nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc thắc mắc nào.

Chúng tôi sử dụng Cookie để nâng cao trải nghiệm duyệt web của bạn, phân phát quảng cáo hoặc nội dung được cá nhân hóa và phân tích lưu lượng truy cập của chúng tôi. Bằng cách nhấp vào "Chấp nhận", bạn đồng ý với việc chúng tôi sử dụng Cookie.