Rối loạn giác quan

Rối loạn giác quan ở trẻ và cách khắc phục

1. Rối loạn giác quan ở trẻ là gì?

Rối loạn giác quan là tình trạng não gặp khó khăn trong việc tiếp nhận, xử lý và phản hồi thông tin mà các giác quan tiếp nhận. Rối loạn này sẽ ảnh hưởng đến khả năng xử lý thông tin từ môi trường bên ngoài cũng như quá trình phát triển cân bằng và toàn diện ở trẻ nhỏ. Đây cũng là một trong những biểu hiện đi kèm của chứng tự kỷ ở trẻ nhỏ.

Các giác quan, bao gồm thị giác, thính giác, vị giác, khứu giác và xúc giác tiếp nhận thông tin từ môi trường bên ngoài và đưa tín hiệu đến não. Khi đó các rối loạn giác quan sẽ khiến cho cơ thể không còn khả năng xử lý thông tin hay xử lý không đúng đắn thông tin đến từ các giác quan. Những rối loạn xảy ra trong quá trình này được gọi là rối loạn cảm giác. Ngoài sự rối loạn ở các giác quan này, trẻ còn có thể trải qua rối loạn về cảm giác bản thể và tiền đình. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến cuộc sống thường ngày và khả năng tương tác xã hội của trẻ, mà còn ảnh hưởng lâu dài đến sức khỏe và sự phát triển bình thường.

2. Các loại rối loạn giác quan

a. Phân theo mức độ rối loạn giác quan

  • Rối loạn tăng cảm giác: (hay quá nhạy cảm) là tình trạng trẻ phản ứng mạnh mẽ và quá mức trước các tác nhân môi trường dẫn đến tình trạng quá tải cảm giác, bùng nổ và choáng ngợp. 
  • Rối loạn giảm cảm giác: Ngược lại với rối loạn tăng cảm giác, rối loạn giảm cảm giác khiến trẻ kém nhạy cảm, phản ứng chậm hoặc chai lì với các kích thích từ bên ngoài. Phải có một lượng thông tin đủ lớn (âm thanh đủ to, bề mặt đủ thô ráp) mới có thể làm trẻ cảm nhận được, trẻ có khả năng chịu đau cao, thường tạo ra tiếng động lớn Cha mẹg giọng nói hoặc hành động

b. Phân theo các hình thức cơ thể xử lý cảm giác

  • Rối loạn điều chỉnh cảm giác (SMD)

Tình trạng này khiến cho trẻ khó khăn trong việc đưa ra phản ứng phù hợp với mức độ của kích thích. Rối loạn này bao gồm tình trạng phản ứng quá mức khiến cho trẻ cảm thấy cần cảnh giác hơn người bình thường. Điều này khiến trẻ cảm nhận âm thanh và các kích thích khác nhạy hơn nhiều so với trẻ bình thường. Thậm chí ngay cả những âm thanh vô hại như tiếng đóng cửa cũng có thể làm cho trẻ ngay lập tức và hoàn toàn trở nên cảnh giác.

  • Rối loạn vận động có liên quan đến cảm giác (SBMD)

Loại rối loạn này xuất hiện khi thông tin cảm giác đầu vào của hệ thống thụ cảm và hệ tiền đình bị sai lệch hoặc xử lý không chính xác. Hệ thống thụ cảm giúp ta biết rõ bộ phận cơ thể nào của chúng ta đang chuyển động như thế nào. Hệ tiền đình cho ta biết rằng cơ thể mình đang ở trạng thái nghiêng hay thăng bằng

Khi hệ thần kinh trung ương của trẻ có khó khăn trong việc sử dụng thông tin cảm giác từ những hệ trên, trẻ có thể mắc rối loạn phối hợp động tác – một dạng của SBMD khiến trẻ trở nên khó khăn trong việc thực hiện chuỗi hành động cần thiết để thực hiện điều trẻ muốn, chẳng hạn như bắt chước, chơi thể thao, đạp xe, hoặc trèo thang. Trẻ em bị chứng SBMD thường lóng ngóng, hay vô tình làm rơi vỡ đồ chơi, hoặc dẫm lên đồ vật. Nhóm trẻ này thường thích ngồi chơi các trò tưởng tượng hơn là thích vận động thể thao.

Một dạng khác của rối loạn SBMD là rối loạn tư thế, khiến cho trẻ lúc nào cũng cảm thấy yếu ớt, dễ mệt mỏi và không định hình rõ tay thuận hay khó vận động.

  • Rối loạn phân biệt cảm giác (SDD)  

Rối loạn này khiến cho trẻ khó phân biệt được những cảm giác giống nhau. Khả năng phân biệt đặc trưng bởi việc quá trình tiếp nhận thông tin từ các giác quan đưa tới và sẽ được hợp nhất, diễn giải, phân tích và kết hợp với toàn bộ dữ liệu chúng ta đã lưu trữ để sử dụng hiệu quả các thông tin tiếp nhận đó, cho phép chúng ta nhận biết tay đang cầm vật gì mà không cần nhìn, hay có thể dùng tay để tìm vật, hình dung ra cách viết trên một trang giấy, hoặc phân biệt được các chất liệu và mùi vị, nghe được cuộc trò chuyện của những người mà ta quan tâm dù xung quanh ồn ào. Rối loạn này có thể khiến cho trẻ trở nên mất tập trung, thiếu khả năng tổ chức và kết quả học tập tại trường bị sút kém.

c. Phân theo các giác quan

Rối loạn thị giác: 

Trẻ khó chịu khi nhìn một số màu sắc hoặc ánh đèn tỏa sáng trong phòng, bực mình khi vào những nơi đông người và chật hẹp. Ở trường học, trẻ bị rối loạn thị giác thường không thể suy luận và chọn đúng cấu phần của một hình ảnh hay bối cảnh nào đó, gặp trở ngại khi chơi những trò ráp nối thông thường

     +   Mức độ giảm

  • Các vật thể xuất hiện một cách khá tối tăm, hoặc mất một số nét.
  • Thị giác trung tâm không rõ nét, nhưng thị giác ngoại vi rất tốt.
  • Vật ở trung tâm được phóng đại, những vật ở cạnh viền bị mờ.
  • Khả năng nhận thức về độ sâu rất kém, gặp vấn đề trong việc ném và bắt. 

     +   Mức độ tăng

  • Hình ảnh bị bóp méo – các đồ vật và ánh sáng sáng sẽ xuất hiện, nhảy múa xung quanh.
  • Hình ảnh bị phân mảnh.
  • Dễ dàng và thích tập trung vào các chi tiết hơn là toàn bộ đồ vật.
  • Khó ngủ vì quá nhạy cảm với ánh sáng.

Thính giác: 

Trẻ không thích nghe tiếng con nít khóc, tiếng chó sủa, tiếng Cha mẹ, tiếng xe rít, hoặc khó chịu khi nghe người khác nhai đồ ăn trong miệng, nghe tiếng quạt trần, tiếng máy điều hòa không khí, và thường bịt tai, phản ứng mạnh khi nghe tiếng còi báo động, tiếng còi hú từ xe cứu thương, tiếng chuông trường, tiếng máy hút bụi, hoặc tiếng máy sấy, trẻ lo âu trong những môi trường náo nhiệt, không trả lời khi nghe người khác gọi tên, hoặc cúi mặt khi nghe những âm thanh mà người khác ít khi chú ý, chẳng hạn âm thanh rè rè phát ra từ đèn điện.

     +   Mức độ giảm

  • Có thể chỉ nghe thấy âm thanh ở một bên tai, tai còn lại chỉ nghe được một phần âm thanh hoặc không nghe thấy gì.
  • Có thể không nhận thức được một số âm thanh cụ thể.
  • Có thể thích những nơi đông đúc, ồn ào hoặc tiếng đập cửa, đập đồ vật.

     +   Mức độ tăng

  • Các tiếng ồn bị phóng đại và âm thanh bị bóp méo và trở nên rối trí.
  • Có thể nghe thấy các cuộc nói chuyện ở khoảng cách xa.
  • Không thể tách được âm thanh ra, luôn lẫn lộn giữa những tiếng ồn ở môi trường xung quanh, dẫn đến khó khăn trong việc tập trung vào một việc gì.

Khứu giác: 

Nhiều trẻ thiếu sự nhạy cảm hoặc rất nhạy cảm với mùi thức ăn, mùi dầu thơm, mùi thuốc lá. 

    +  Mức độ giảm

  • Một vài trẻ mất khả năng khứu giác và không thể nhận biết được các mùi đặc trưng (bao gồm cả mùi cơ thể của chính họ).
  • Một số thường liếm đồ vật để cảm nhận vật đó là gì.

    +  Mức độ tăng

  • Luôn cảm thấy các mùi đều quá mạnh, ngoài sức chịu đựng, gây ra một số vấn đề khi đi vệ sinh.
  • Không thích người có mùi lạ, mùi dầu gội đầu, sữa tắm,…

Vị giác: 

Trẻ bị rối loạn vị giác nhiều khi thích những đồ ăn quá chua hoặc có mùi nồng, hoặc chỉ thích những đồ ăn không màu vị, nhạt nhẽo. Một số trẻ không thể phân biệt các loại thức ăn khác nhau như thế nào, thích nhai, liếm những đồ vật không ăn được

    +  Mức độ giảm

  • Thích những món ăn cay.
  • Ăn hoặc đưa vào mồm những vật không ăn được như đá, đất cát, kính, kim loại,…

    +  Mức độ tăng

  • Cảm thấy một số mùi vị và thực phẩm quá mạnh bởi vì khứu giác quá nhạy cảm. Có chế độ ăn rất hạn chế về các loại thực phẩm.
  • Một số loại thực phẩm có thể gây cảm giác khó chịu – có thể chỉ ăn những thức ăn mềm như cháo hoặc kem.

Một số trẻ tự kỷ còn tự giới hạn Cha mẹ thân chỉ ăn các đồ ăn nhạt hoặc thích các đồ ăn có mùi vị mạnh.

Xúc giác:

     +   Mức độ giảm

  • Ôm chặt người khác – để có cảm giác tiếp xúc vật gì đó.
  • Có khả năng chịu đau rất tốt.
  • Có thể không cảm nhận được thức ăn ở trong miệng.
  • Có thể tự làm đau bản thân.
  • Thích các vật nặng (ví dụ như chăn nặng) đắp lên người.
  • Nhai mọi thứ, kể cả quần áo và các thứ không ăn được.

     +   Mức độ tăng

  • Việc chạm vào vật gì cũng là một việc có thể gây đau đớn hoặc khó chịu – trẻ có thể không thích được đụng chạm
  • Không thích cầm nắm đồ vật gì trên tay hoặc đi vào chân.
  • Khó khăn trong việc chải đầu hoặc gội đầu vì đầu trẻ rất nhạy cảm.
  • Cảm thấy khó chịu với kết cấu của 1 số loại thực phẩm.
  • Chỉ chấp nhận một số ít các loại vải hoặc kết cấu nhất định.

Tiền đình:

     +   Mức độ giảm

  • Khó khăn trong các hoạt động như thể thao, các hoạt động cần sự kiểm soát sự chuyển động cơ thể.
  • Khó khăn trong việc dừng đột ngột hoặc trong một hoạt động.
  • Say xe.
  • Khó khăn với các hoạt động khi đầu không thẳng hoặc chân không chạm đất.

Cảm nhận bản thể:

Hệ thống cảm nhận bản thể cho chúng ta biết cơ thể chúng ta ở đâu trong không gian, và cách các phần cơ thể khác nhau chuyển động như thế nào.

     +   Mức độ giảm

  • Đứng quá gần vào người khác, trẻ không thể tính được khoảng cách đến người khác hay không nhận định được không gian cá nhân.
  • Khó khăn trong việc di chuyển trong phòng và tránh các vật cản.
  • Có thể đâm vào người khác.

     +   Mức độ tăng

  • Khó khăn với các kỹ năng vận động tinh, ví dụ như cầm nắm các vật nhỏ như cúc áo hoặc dây giày.
  • Phải xoay toàn bộ cơ thể để nhìn vào vật gì đó.

Giác quan thứ phát:

Giác quan thứ phát là một dạng hiếm gặp mà một số người mắc tự kỷ có thể trải qua. Đó là một thông tin được tiếp nhận bằng một hệ giác quan này, nhưng kết quả đi ra lại là một hệ giác quan khác. Bởi vậy, một người có thể nghe thấy một âm thanh, nhưng lại nhìn nhận nó như một màu sắc.

3. Lời khuyên

a. Lời khuyên cụ thể đối với từng loại rối loạn giác quan

Thị giác: 

Cha mẹ có thể tạo ra một số thay đổi đối với môi trường ví dụ như giảm thiểu ánh sáng huỳnh quang, đưa cho trẻ kính râm. Sử dụng rèm che, tạo một khu riêng biệt trong phòng để giảm bớt sự phân tán bằng hình ảnh hay sử dụng rèm làm tối.

Thính giác:

Cha mẹ có thể giúp trẻ bằng cách sử dụng hỗ trợ giác quan để thúc đẩy các thông tin truyền tải bằng lời nói, và đảm bảo rằng trẻ nhận thức được sự nhạy cảm giác quan ngưỡng thấp, giúp trẻ giao tiếp hiệu quả hơn. Cha mẹ cũng nên đảm bảo rằng những việc mà trẻ thích làm nằm trong hoạt động thời khóa biểu hàng ngày, để đảm bảo đáp ứng các nhu cầu về giác quan.

Cha mẹ cũng có thể giúp trẻ bằng cách:

  • Đóng cửa ra vào và cửa sổ lại để giảm các âm thanh ở bên ngoài vào.
  • Báo trước cho trẻ trước khi đi vào khu vực đông đúc ồn ào.
  • Đưa cho trẻ cái bịt tai và một bản nhạc để nghe.
  • Tạo ra một khu vực tách biệt có tấm chắn trong lớp học hoặc trong phòng, tránh trẻ  ngồi khu vực gần cửa và cửa sổ.

Khứu giác:

Cha mẹ có thể giúp trẻ bằng cách tạo ra một thói quen hàng ngày xung quanh hoạt động tắm giặt và sử dụng các sản phẩm có mùi mạnh để làm xao lãng trẻ khỏi những kích thích khứu giác mạnh không phù hợp (ví dụ như phân).

Có thể sử dụng những chất tẩy hoặc dầu gội đầu không mùi, tránh xịt nước hoa và tạo một môi trường càng ít mùi nhất càng tốt.

Vị giác:

Cha mẹ có thể giúp trẻ bằng cách:

  • Đưa cho trẻ các vật thay thế có cùng kết cấu, ví dụ như thạch, hoặc  bột ngô và nước. (thay cho đất cát)
  • Đưa cho trẻ những ống hút hoặc kẹo cứng để nhai (thay vì các đồ cứng)
  • Thông báo với trẻ khi chuẩn bị chạm vào trẻ và luôn tiến đến từ phía trước.
  • Thay đổi loại kết cấu thức ăn.

Xúc giác:

  • Giới thiệu từ từ những loại kết cấu khác nhau và đưa từ từ lên miệng của trẻ, ví dụ như vải flannel, bàn chải đánh răng và một số loại thức ăn khác nhau.
  • Cho phép trẻ tự hoàn thành hoạt động của chúng ( ví dụ như chải tóc và gội đầu) để trẻ  có thể làm những gì mà trẻ cảm thấy dễ chịu.
  • Mặc trái quần áo để đảm bảo cơ thể không tiếp xúc đường may, cắt bỏ tất cả các nhãn mác quần áo.
  • Cho phép trẻ mặc quần áo mà trẻ cảm thấy dễ chịu.

Tiền đình:

Cha mẹ có thể khuyến khích các hoạt động giúp phát triển hệ thống tiền đình. Điều này bao gồm việc cưỡi ngựa, chơi đu quay, đi ngựa gỗ, bập bênh, bắt bóng hoặc luyện tập đi lên các bậc hoặc lề đường.

Cha mẹ có thể giúp họ bằng cách chia nhỏ các hoạt động thành các bước nhỏ dễ dàng kiểm soát hơn và sử dụng các hướng dẫn trực quan, ví dụ như vạch đích.

Cảm nhận bản thể:

Cha mẹ có thể giúp trẻ bằng cách:

  • Đặt đồ đạc ở các góc phòng, khiến cho việc đi lại trong phòng được dễ dàng hơn
  • Sử dụng chăn dày để đắp tạo sức nặng lên cơ thể.
  • Tạo các miếng dán màu sắc ở trên sàn nhà để chỉ ranh giới, giúp cho việc đi lại dễ dàng hơn.
  • Sử dụng quy tắc chiều dài cánh tay để định vị không gian bản thân, ví dụ như luôn giữ khoảng cách một cánh tay với người khác.
  • Tổ chức các hoạt động rèn kỹ năng vận động tinh ví dụ như hoạt động xâu dây vào bàn, xâu hạt, vòng.

b. Lời khuyên dinh dưỡng

Những đứa trẻ quá nhạy cảm với mùi vị thường thích những món ăn nhạt nhẽo và không thích bất cứ thứ gì cay hoặc nhiều hương vị. Trẻ nhạy cảm với cả kết cấu của thức ăn, một món ăn quá đặc, quá nhuyễn mịn, hoặc quá thô, lợn cợn sẽ khiến trẻ mất hứng thú và không muốn ăn. Trẻ quá nhạy cảm với mùi sẽ ghét những món ăn đậm mùi. 

Do đó, trẻ thường kén ăn, biếng ăn và chế độ ăn thiếu sự đa dạng, linh hoạt. Ví dụ trẻ không thích ăn rau, không thích ăn hoa quả, do đó bị thiếu chất xơ và vitamin, dẫn đến táo bón. Một số trẻ lại không thích ăn cá, dẫn đến thiếu hụt axit béo, Omega 3,…Vì vậy, nhóm trẻ tự kỷ luôn cần sử dụng các sản phẩm bổ sung dinh dưỡng để bù lại thực đơn quá đơn giản, sơ sài thường ngày. 

Được biết đến là dòng sữa giàu dinh dưỡng, Miwako là một trong những sản phẩm bổ trợ hữu ích cho trẻ tự kỷ. Sữa cung cấp đầy đủ dưỡng chất thay thế cho bữa ăn bị thiếu hụt, đảm bảo độ đa dạng dinh dưỡng. Sữa cũng bổ sung đầy đủ với tỉ lệ cân bằng các nhóm dinh dưỡng dưỡng chuyên biệt, nguồn gốc thiên nhiên như GABA, folic acid, omega 3, kẽm, vitamin B12, các axit amin quan trọng,… có ảnh hưởng mạnh mẽ đến chức năng thần kinh cho trẻ đặc biệt và dựa trên sự kế thừa các kết quả nghiên cứu khoa học về trị liệu dinh dưỡng cho trẻ có nhu cầu đặc biệt trên thế giới hiện nay. 

Sữa Miwako được kiểm duyệt chất lượng chặt chẽ bởi Bộ Y tế Malaysia. Sữa hiện được nhập khẩu và phân phối bởi Công ty TNHH thực phẩm NP. 

Nguồn: https://autismawarenesscentre.com/does-my-child-have-sensory-processing-disorder/https://childmind.org/article/sensory-processing-faq/

Dinh dưỡng cân bằng, hoàn toàn từ thiên nhiên: dễ tiêu hóa, hấp thu, phòng ngừa nguy cơ táo bón, béo phì..

Miwako vị gạo là dòng sữa sạch, thuần chay, hoàn toàn từ thực vật canh tác thuận tự nhiên và đối với một số nguyên liệu đạt chuẩn hữu cơ Mỹ USDA. Sử dụng công nghệ Nhật Bản tối ưu hàm lượng dinh dưỡng trong các loại hạt so với phương pháp nảy mầm thông thường.


Là sản phẩm dinh dưỡng công thức độc đáo có nguồn gốc từ thực vật hữu cơ, được bổ sung Vitamin và khoáng chất, cần thiết cho sự phát triển toàn diện của trẻ nhỏ

MIWAKO A+ được biết đến là sữa công thức thực vật hữu cơ, dành riêng cho đối tượng trẻ có nhu cầu đặc biệt như: trẻ tự kỷ (ASD), trẻ tăng động giảm chú ý (ADHD), trẻ chậm phát triển ngôn ngữ, chậm phát triển trí tuệ, bất dung nạp Lactose, trẻ dị ứng,…

Tất cả nội dung của tài nguyên này chỉ được tạo ra cho mục đích thông tin và không nhằm mục đích thay thế cho lời khuyên, chẩn đoán hoặc điều trị chuyên nghiệp. Luôn tìm kiếm lời khuyên của bác sĩ, nhà trị liệu hoặc nhà cung cấp dịch vụ y tế đủ tiêu chuẩn khác nếu bạn có bất kỳ câu hỏi hoặc thắc mắc nào.

Chúng tôi sử dụng Cookie để nâng cao trải nghiệm duyệt web của bạn, phân phát quảng cáo hoặc nội dung được cá nhân hóa và phân tích lưu lượng truy cập của chúng tôi. Bằng cách nhấp vào "Chấp nhận", bạn đồng ý với việc chúng tôi sử dụng Cookie.